Cấu tạo của khớp cổ chân

Khớp cổ chân được tạo bởi 3 thành phần: mắt cá ngòai, mắt cá trong và xương sên. Bao quanh khớp cổ chân là một hệ thống các dây chằng rất phức tạp. Các dây chằng này có nhiệm vụ giúp cổ chân hoạt động trong tư thế cân bằng, vững chắc. Khi các dây chằng quanh khớp cổ chân bị rách (thường gọi là bong gân), cổ chân sẽ kém vững, bàn chân sẽ bị lệch ra ngoài hoặc vào trong, ít hay nhiều tùy vào mức độ tổn thương của dây chằng. Nếu chấn thương xảy ra nặng hơn, các xương tạo nên khớp cổ chân có thể bị gãy, khớp có thể bị trật. Bề mặt khớp cổ chân nhỏ hơn khớp gối và khớp háng, nhưng nó phải chịu lực tác động gấp 2-4 lần khi đi bộ và chịu lực gấp 6-8 lần khi chạy nhảy. Khi hoạt động, khớp cổ chân phải thực hiện vận động “đa trục” chứ không đơn thuần là khớp bản lề. Do đó, chỉ một chấn thương nhỏ ở cổ chân cũng có thể gây ảnh hưởng lớn tới chức năng vận động.

Chấn thương và bệnh lý khớp cổ chân rất thường gặp

Ở người thích chơi thể thao, chấn thương cổ chân rất thường gặp, nhất là ở những môn thể thao đối kháng như bóng đá, tennis, cầu lông v.v….Những người bình thường không chơi thể thao cũng có thể bị chấn thương khớp cổ chân khi đi lại, chạy nhảy. Ngoài chấn thương, vùng cổ chân cũng có thể bị tổn thương do các bệnh lý như viêm khớp, viêm quanh khớp và thoái hóa khớp. Nếu không được điều trị đúng cách và đầy đủ thì các chấn thương hoặc bệnh lý của cổ chân có thể trở thành mạn tính. Bệnh nhân sẽ bị sưng đau từng đợt, kéo dài dai dẳng, ảnh hưởng đến việc đi đứng hàng ngày. Khi điều trị nội khoa nhiều đợt không hiệu quả thì vấn đề phẫu thuật khớp cổ chân sẽ được đặt ra.

Ưu điểm của phẫu thuật nội soi khớp cổ chân

Trước đây, khi chưa có những tiến bộ trong lĩnh vực phẫu thuật nội soi khớp, để giải quyết các bệnh lý trong khớp các bác sĩ phải thực hiện mổ mở, nghĩa là rạch mở rộng da và bao khớp để có thể thấy rõ phía trong của màng bao khớp, sụn khớp. Mổ mở như vậy tuy giúp giải quyết được bệnh nhưng lại gây ra nhiều tổn thương cho các phần không bị bệnh. Hiện nay, xu hướng của điều trị phẫu thuật trên thế giới cũng như ở Việt Nam là phẫu thuật “xâm lấn tối thiểu”, nghĩa là cố gắng càng ít gây tổn thương cho cơ thể càng tốt, nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị. Phẫu thuật nội soi khớp cổ chân cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Để tiến hành phẫu thuật nội soi khớp cổ chân, người ta sử dụng những dụng cụ phẫu thuật nhỏ như chiếc đũa, với các đường rạch da chỉ khoảng từ 5-7mm. Nhờ sự phóng đại của hệ thống ống kính nội soi mà các phẫu thuật viên có thể phát hiện và sửa chữa được những thương tổn nhỏ nhất, quan sát được các khu vực ngóc ngách trong khớp mà với mổ mở nhiều khi cũng không thấy được.

Các ưu điểm nổi bật của phẫu thuật nội soi khớp cổ chân so với mổ mở có thể kể đến: sau mổ bệnh nhân ít đau hơn rất nhiều và thông thường có thể đi lại ngay và ra viện trong ngày đầu tiên sau mổ, sẹo mổ rất nhỏ và thẩm mỹ, tỉ lệ nhiễm trùng sau mổ thấp hơn nhiều so với mổ mở, bệnh nhân có thể sớm quay trở lại với công việc hàng ngày. Ngoài ra, trong những trường hợp bệnh lý khớp cổ chân không thể chẩn đoán được với thăm khám lâm sàng và các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, thì nội soi khớp có thể coi như một “cứu cánh”, vừa giúp chẩn đoán chính xác vừa giúp điều trị bệnh hiệu quả.

Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào cũng có thể áp dụng phẫu thuật nội soi. Đối với nhiều tình trạng chấn thương hay bệnh lý của khớp cổ chân, điều trị phẫu thuật bằng mổ mở là điều không thể tránh khỏi. Phẫu thuật nội soi khớp cổ chân thường được áp dụng trong điều trị: viêm khớp cổ chân do chấn thương hoặc do bệnh lý, viêm chỗ bám gân gót, đau khớp cổ chân do gãy xương cũ, thoái hóa khớp, mảnh sụn rời trong khớp, gai xương, khuyết sụn và những trường hợp đau khớp cổ chân mà không thể chẩn đoán được nguyên nhân dựa trên các kỹ thuật thông thường.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *